Diễn đàn - Trường ĐH Tiền Giang Tìm kiếm | Chủ đề có bài mới | Đăng nhập | Đăng ký

nguyên lý kế toan (part 1)
www.itclubviet.com Offline
#1 Đã gửi : Tuesday, March 22, 2011 9:50:59 AM(UTC)
Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 3/18/2011(UTC)
Bài viết: 94
Man
Đến từ: ĐH Tiền Giang

Cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn: 7 lần trong 6 bài viết

CHƯƠNG II : PHƯƠNG PHÁP
CHỨNG TỪ KẾ TOÁN
I/ KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHỨNG TỪ KẾ TOÁN
1. Khái niệm:
Chứng từ kế toán là phương pháp thông tin và kiểm tra sự phát sinh và hoàn thành của các
nghiệp vụ kinh tế, qua đó thông tin và kiểm tra về hình thái và sự biến động của từng đối tượng
kế toán cụ thể. Phương pháp chứng từ kế toán được cấu thành bởi 2 yếu tố:
- Hệ thống bản chứng từ.
- Chương trình luân chuyển chứng từ kế toán.
2. Ý nghĩa của phương pháp chứng từ kế toán:.
- Thông qua phương pháp chứng từ kế toán sẽ thu nhận thông tin một cách kịp thời, nhanh chóng
phục vụ cho việc quản lý, điều hành từng nghiệp vụ một cách có hiệu quả.
- Thông qua phương pháp chứng từ kế toán cung cấp số liệu để ghi sổ kế toán và thông tin kinh
tế.
- Thông qua phương pháp chứng từ kế toán, kế toán thực hiện chức năng kiểm tra các hoạt động
kinh tế tài chính.
II/ CÁC LOẠI CHỨNG TỪ KẾ TOÁN:
1. Khái niệm : Chứng từ kế toán là những vật mang tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính, nó
chứng minh cho các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành.
- Bản chứng từ là chứng minh về tính hợp pháp đồng thời là phương tiện thông tin về kết quả của
nghiệp vụ kinh tế.
2. Vai trò và ý nghĩa của chứng từ kế toán:
- Chứng từ kế toán là bằng chứng để chứng minh tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh ở đơn vị.
- Là căn cứ pháp lý cho mọi số liệu, thông tin kinh tế và là cơ sở số liệu để ghi sổ kế toán.
- Là căn cứ pháp lý để kiểm tra việc chấp hành các chính sách chế độ và quản lý kinh tế, tài chính
tại đơn vị, kiểm tra tình hình về bảo quản và sử dụng tài sản, phát hiện và ngăn ngừa, có biện
pháp xử lý mọi hiện tượng tham ô, lãng phí tài sản của đơn vị, của Nhà Nước.
- Là bằng chứng để kiểm tra kế toán, bằng chứng để giải quyết các vụ kiện tụng, tranh chấp về
kinh tế, kiểm tra kinh tế, kiểm toán trong đơn vị.
3. Các loại chứng từ kế toán:
3.1 Phân loại chứng từ theo công dụng:
- Chứng từ mệnh lệnh: là loại chứng từ mang quyết định của chủ thể quản lý như lệnh chi tiền,
lệnh xuất kho. Chứng từ mệnh lệnh chỉ thể hiện mệnh lệnh, chưa phản ánh nghiệp vụ kinh tế
phát sinh nên chưa phải là căn cứ để ghi sổ kế toán.
- Chứng từ thực hiện: là loại chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh và thực sự
hoàn thành, là căn cứ để ghi sổ kế toán. Ví dụ: phiếu thu, phiếu chi…
- Chứng từ liên hợp: là loại chứng từ kết hợp 2 nội dung của 2 loại chứng từ trên. Ví dụ lệnh kiêm
phiếu chi…
• Tác dụng:
- Giúp kế toán biết được chứng từ nào là căn cứ để ghi sổ và loại chứng từ nào là cơ sở để thực
hiện.
- Giúp cho người quản lý biết cách làm thế nào để tăng loại chứng từ liên hợp để giảm bớt số
lượng chứng từ.
3.2 Phân loại theo địa điểm lập chứng từ:
- Chứng từ bên trong: là các chứng từ do các bộ phận nội bộ của doanh nghiệp lập như phiếu
xuất, phiếu nhập, phiếu thu…
- Chứng từ bên ngoài: la loại chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính có liên quan đến
đơn vị và được lập từ các đơn vị bên ngoài như hoá đơn mua hàng, giấy báo Nợ, báo Có của
Ngân hàng…
• Tác dụng: là cơ sở cho kế toán xác định được trọng tâm của việc kiểm tra chứng từ, từ đó đưa
ra những biện pháp thích hợp để kiểm tra từng loại chứng từ.
3.3: Phân loại theo nội dung của nghiệp vụ kinh tế phản ánh trên chứng từ:
Đây là cách phân loại nhằm sắp xếp các chứng từ thành từng loại. Theo cách này chứng từ
được chia làm các loại:
- Chứng từ tiền mặt.
- Chứng từ tiền gửi ngân hàng.
- Chứng từ vật tư, hàng hoá.
- Chứng từ tài sản cố định.
- ………..
• Tác dụng: Là cơ sở để phân loại , tổng hợp số liệu, định khoản kế toán để ghi sổ kế toán.
3.3 Phân loại theo mức độ khái quát số liệu phản ánh trên chứng từ:
- Chứng từ gốc: là loại chứng từ phản ánh trực tiếp tại chỗ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như
phiếu thu, phiếu chi….
- Chứng từ tổng hợp: là loại chứng từ được dùng để tổng hợp số liệu từ các chứng từ gốc ( chứng
từ ban đầu ) theo từng nghiệp vụ kinh tế (nội dung kinh tế) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc
ghi sổ kế toán. Ví dụ: bảng tổng hợp xuất, nhập vật liệu.
• Tác dụng:
- Giúp người làm công tác nghiên cứu và công tác kế toán cụ thể cần nghiên cứu xây dựng và
tăng cường sử dụng chứng từ tổng hợp để giảm bớt số lần ghi sổ kế toán.
- Xác định được tầm quan trọng của từng loại chứng từ mà có cách sử dụng và bảo quản thích
hợp.
4. Các yếu tố cơ bản của chứng từ:
Chứng từ kế toán được lập theo đúng mẫu quy định của chế độ kế toán hiện hành.Việc ghi chép
trên chứng từ phải đúng nội dung, bản chất, mức độ nghiệp vụ kinh tế phát sinh và được pháp
luật cho phép, có đủ chữ ký của người chịu trách nhiệm và dấu đơn vị.
Một chứng từ kế toán (chứng từ gốc) được coi là hợp pháp, hợp lệ phải có đầy đủ các yếu tố cơ
bản sau:
- Tên gọi chứng từ: phản ánh khái quát nội dung kinh tế của nghiệp vụ ghi trong chứng từ. Đây là
căn cứ, cơ sở để phân loại chứng từ, tổng hợp số liệu của các chứng từ cùng loại để ghi sổ kế
toán.
- Số và ngày chứng từ: phản ánh số thứ tự, thời gian của nghiệp vụ kinh tế phát sinh ghi trong
chứng từ giúp cho việc ghi sổ, kiểm tra, đối chiếu số liệu theo thứ tự thời gian, đảm bảo tính khoa
học của công tác kế toán.
- Nội dung tóm tắt nghiệp vụ kinh tế: ghi tóm tắt nội dung nghiệp vụ giúp cho việc kiểm tra tính
hợp lý, hợp pháp của nghiệp vụ đó và là căn cứ xác định mối quan hệ đối ứng để định khoản và
ghi sổ kế toán.
- Các đơn vị đo lường cần thiết: thể hiện quy mô của nghiệp vụ kinh tế phát sinh về số lượng,
giá trị.
- Tên, địa chỉ và chữ ký của những người có trách nhiệm liên quan đến nghiệp vụ kinh tế trong
chứng từ. Yếu tố này đảm báo tính hợp pháp của chứng từ, là cơ sở để xác định trách nhiệm vật
chất của những người có liên quan đến nghiệp vụ kinh tế ghi trên chứng từ.
- Ngoài một số yếu tố cơ bản trên, trong một số loại chứng từ còn có các yếu tố bổ sung như:
phương thức bán , phương thức thanh toán, định khoản kế toán….
III TRÌNH TỰ LUÂN CHUYÊN CHỨNG TỪ
1. Các bước luân chuyển chứng từ:
Chứng từ kế toán từ khi bắt đầu lập cho đến khi lưu trữ, bảo quản trải qua các bước sau:
- Bước 1: Kiểm tra và hoàn chình chứng từ.
Bước này nhằm xem xét tính hợp lý, hợp pháp, hợp lệ của chứng từ theo chế độ quy định đồng
thời kiểm tra việc chấp hành quy chế quản lý nội bộ của người lậu và xét duyệt đối với từng loại
nghiệp vụ kinh tế.
- Bước 2: Tổ chức luân chuyển chứng từ để ghi sổ kế toán và thông tin kinh tế:
Sau khi chứng từ được kiểm tra và hoàn chình, kế toán sử dụng thông tin kinh tế trên chứng từ
để tổng hợp số liệu, định khoản và ghi vào sổ tài khoản kế toán có liên quan.
- Bước 3: Lưu trữ chứng từ:
Chứng từ kế toán vừa là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế toán, căn cứ pháp lý cho mọi thông tin kinh
tế vừa là tài liệu lịch sử kinh tế của đơn vị. Bởi vậy, sau khi ghi sổ và kết thúc kỳ kế toán, chứng
từ cần phải được lưu trữ, bảo quản theo thời gian quy định.
2. Kế hoạch luân chuyển chứng từ kế toán:
Kế hoạch luân chuyển chứng từ là trình tự được thiết lập sẵn cho quá trình vận động của mỗi
loại chứng từ nhằm phát huy đầy đủ chức năng thông tin và kiểm tra của chứng từ. Mỗi đơn vị
khác nhau có thể có kế hoạch luân chuyển chứng từ khác nhau. Nhưng về cơ bản kế hoạch luân
chuyển chứng từ cần xây dựng trên cơ sở chế độ chứng từ của Nhà Nước, có sự điều chỉnh
thích hợp với đặc điểm riêng của từng đơn ví
Nội dung cơ bản của kế hoạch luân chuyển chứng từ:
- Xác định các khâu vận động của chứng từ.
- Xác định nội dung công việc và độ dài thời gian của từng khâu.
- Xác định người chịu trách nhiệm trong từng khâu.
Phương pháp lập kế hoạch:
- Lập riêng cho từng loại chứng từ, xây dựng các chu trình luân chuyển cá biệt.
- Lập chung cho tất cả các loại chứng từ.
IV KIỂM KÊ
1. Khái niểm:
1.1 Nguyên nhân tất yếu của kiểm kê:
Yêu cầu của hạch toán kế toán là phải đảm bảo phản ánh chính xác số thực tế hiện có về các
loại tài sản của doanh nghiệp, số dư của các tài khoản ở sổ kế toán phải phù hợp với số liệu
thực tế hiện có,
Tuy nhiên số liệu trên sổ kế toán và số liệu thực tế vẫn có thể phát sinh chênh lệch do những
nguyên nhân sau:
- Nhầm lẫn về chủng loại, thiếu chính xác khi nhập, xuất, thu, chi..
- Lập chứng từ hoặc ghi chép trên sổ kế toán sai sót…
- Các hành vi gian lận, tham ô…
Để đảm bảo cho số liệu kế toán được chính xác ngoài việc tổ chức tốt chứng từ, kế toán còn phải
thực hiện tốt công tác kiểm kê nhằm phát hiện kịp thời những hiện tượng chênh lệch số liệu và
có biện pháp điều chỉnh.
1.2 Khái niệm kiểm kê:
Kiểm kê la phương pháp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản hiện có nhằm xác định chính xác số
lượng, chất lượng các loại tài sản hiện có, phát hiện các khoản chênh lệch giưũa số liệu thực tế
và số liệu trên sổ kế toán.
2. Các loại kiểm kê:
2.1 Theo phạm vi tiến hành kiểm kê:
- Kiểm kê đầy đủ: áp dụng kiểm tra mặt số lượng hiện vật hiện có thực tế của tài sản.
- Kiểm kê điển hình (chọn mẫu): áp dụng để kiểm tra mặt chất lượng của vật tư, hàng hóa.
2.2 Theo đối tượng tiến hành kiểm kê:
- Kiểm kê toàn bộ: là kiểm kê toàn bộ các loại tài sản của đơn vị. Loại kiểm kê này mỗi năm tiến
hành ít nhất 1 lần trước khi lập Bảng cân đối kế toán cuối năm.
- Kiểm kê từng phần: là kiểm kê từng loại tài sản nhất định phục vụ yêu cầu quản lý.
2.3 Theo thời gian tiến hành kiểm kê:
- Kiểm kê định kỳ: là kiẻm kê theo thời hạn quy định tùy theo từng loại tài sản mà định kỳ kiểm kê
khác nhau.
- Kiểm kê bất thường: là kiểm kê đột xuất ngoài kỳ hạn quy định. Kiểm kê bất thường tiến hành
trong trường hợp thay đổi người quản lý tài sản hoặc khi có cơ quan tài chính, chủ quản thanh
tra, kiểm tra….
3. Phương pháp kiểm kê:
Công tác kiểm kê rất quan trọng và có liên quan đến nhiều người, nhiều bộ phận và cũng là một
công tác hết sức phức tạp đòi hỏi hoàn thành khẩn trưng do đó phải được tổ chức và chỉ đạo
chặt chẽ.
Trước khi kiểm kê phải hoàn thành việc ghi sổ kế toán tại thời điểm kiểm kê.
Khi tiến hành kiểm kê tùy theo tính chất của đối tượng kiểm kê mà sử dụng các phương pháp
kiểm kê thích hợp.
3.1 Kiểm kê hiện vật:
- Trước khi kiểm kê cần sắp xếp hiện vật theo thứ tự, ngăn nắp, chuẩn bị đủ phương tiện cân đo
cần thiết.
- Khi kiểm kê phải có mặt người phụ trách trực tiếp bảo quản , quản lý tài sản kiểm kê tham gia.
- Kết quả kiểm kê phải ghi vào các mẫu biểu kiểm kê và phải đối chiếu kết quả kiểm kê với số
liệu trên sổ kế toán nhằm phân tích nguyên nhân và xác định trách nhiệm của người bảo quản.
3.2 Kiểm kê tiền mặt và các chứng khoán có giá trị như tiền:
- Tiền mặt phải phân loại tiền và số đếm của từng loại .
- Vàng, bạc, đá quý phải kiểm kê theo từng loại về mặt khối lượng, chất lượng và giá trị bằng
tiền.
- Các chứng khoán có giá trị cũng phải kiểm kê riêng từng loại về chỉ tiêu số lượng và giá trị.
3.3 Kiểm kê tiền gửi ngân hàng và các khoản thanh toán:
Khi kiểm kê các tài khoản này phải có sự đối chiếu sổ sách kế toán đối với ngân hàng và từng
khách nợ.
Căn cứ vào kết quả kiểm kê các cấp lãnh đạo sẽ quyết định xử lý từng trường hợp cụ thể và kê
toán căn cứ vào quyết đinh xử lý để phản ánh vào sổ kế toán.
3.4 Vai trò của kế toán trong kiểm kê:
- Trước khi kiểm kê kế toán tham gia xây dựng phương hướng, xác định phạm vị kiểm kê, đối
tượng kiểm kê. Kế toán hoàn thành việc ghi sổ tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, khóa sổ
đúng thời điểm kiểm kê, chuẩn bị đầy đủ các tài liệu, mẫu biểu cần thiết phục vụ công tác kiểm
kê.
- Trong quá trình kiểm kê: kế toán tham gia kiểm tra, giám sát việc ghi chép kết quả kiểm kê,
tham gia tổng hợp số liệu, đối chiếu số liệu với tài liệu kế toán.
- Sau khi kiểm kê: kế toán căn cứ vào kết quả kiểm kê và ý kiếm giải quyết xử lý mà tiến hành
diều chỉnh sổ kế toán cho phù hợp với số liệu thực tế kiểm kê.
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP TÀI KHOẢN KẾ TOÁN
I KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP
TÀI KHOẢN KẾ TOÁN
1. Khái niệm:
Phương pháp tài khoản kế toán là phương pháp kế toán phân loại các đối tượng kế toán
để phản ánh và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình hiện có
và sự vận động của từng đối tượng kế toán riêng biệt.
2. Ý nghía:
Phản ánh những nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo mối quan hệ giữa các mặt, các yếu tố,
các quá trình và các loại tài sản. Đồng thời đáp ứng yêu cầu phản ánh nhanh chóng, kịp
thời các nghiêp vụ kinh tế nhiều, liên tục và ở những thời gian, địa diểm khác nhau, thỏa
mãn được yêu cầu quản lý.
II TÀI KHOẢN KẾ TOÁN
1. Khái niệm:
Tài khoản kế toán là một nội dung của phương pháp tài khoản kế toán, dùng để phản ánh
thường xuyên, liên tục và có hệ thống các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo đối
tượng kế toán cụ thể.
2. Kết cấu chung của tài khoản kế toán:
Tài khoản kế toán sử dụng để phản ánh số hiện có và tình hình vận động của từng đối
tượng kế toán riêng biệt. Mỗi đối tượng có nội dung kinh tế, ý nghĩa và yêu cầu quản lý
khác nhau nhưng xét về sự vận động thì bất kỳ đối tượng kế toán cụ thế nào cũng luôn
vận động theo 2 mặt đối lập nhau là tăng và giảm. Do đó để phản ánh riêng biệt 2 mặt đối
lập này của sự vận động, tài khoản cần đươc chia làm 2 bên chủ yếu để phản ánh từng
mặt riêng biệt của đối tượng kế toán.
Trong thực tế công tác kế toán, tài khoản được thể hiện trong các tờ sổ bao gồm 2 cột
chủ yếu là cột Nợ và cột Có và các cột khác liên quan .
Trong học tập người ta sơ đồ hóa tài khoản theo hình thức chữ “ T “ như sau:
Nợ Tài khoản ….. Có

- Bên trái gọi là bên Nợ
- Bên phải gọi là bên Có.
Nợ, Có chỉ mang tính quy ước, không có hàm ý về kinh tế.
Khi ghi chép vào tài khoản kế toán cần phải tuân thủ nguyên tắc sau:
- Các nghiệp vụ gây nên sự vận động tăng tập hợp một bên và bên còn lại tập hợp các
nghiệp vụ gây nên sự vận động giam của đối tượng phản ánh.
- Ghi Nợ một tài khoản là ghi một số tiền vào bên Nợ tài khoản đó. Và tương tự với bên Có
3. Phân loại tài khoản kế toán:
3.1 Phân loại theo nội dung kinh tế: theo cách phân loại này tài khoản được chia thành 4
loại:
- Loại 1: Loại tài khoản phản ánh giá trị các loại tài sản (tài sản), gồm những tài khoản
phản ánh các đối tượng kế toán có nội dung kinh tế là giá trị tài sản. Loại này gồm 2 nhóm
chính là : nhóm tài sản lưu động và nhóm tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn.
- Loại 2: loại tài khoản phản ánh nguồn hình thành tài sản: gồm những tài khoản phản ánh
các đối tượng kế toán có nội dung kinh tế là nguồn hình thành tài sản. Loại này cũng
được chia làm 2 nhóm chính : nhóm tài khoản phản ánh nguồn vốn chủ sở hữu (hoặc
nguồn kinh phí) và nhóm tài khoản phản ánh nợ phải trả.
- Loại 3: loại tài khoản phản ánh quá trình hoạt động.. Loại này được chia thành các
nhóm: nhóm tài khoản phản ánh các khoản thu. Và nhóm tài khoản phản ánh các khoản
chi.
- Loại 4: loại tài khoản xác định kết quả hoạt động kinh tế.
• Tác dụng của việc phân loại tài khoản theo nội dung kinh tế:
- Giúp chúng ta biết được đối tượng kế toán nào được phản ánh trên tài khoản nào.
- Xác định số lượng tài khỏan cần phản ánh, lựa chọn các tài khoản phù hợp với nội dung
hoạt động và điều kiện cụ thể của từng đơn vị kế toán.
- Là cơ sở để xác định số lượng, tên gọi của tài khoản trong việc xây dựng hệ thống tài
khoản kế toán..
3.2 Phân loại theo công dụng và kết cấu:
- Loại 1: Loại tài khoản cơ bản là những tài khoản phản ánh các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu,
quan trọng. Loại này được chia thành 3 nhóm:
+ Nhóm tài khoản phản ánh các loại giá trị tài sản: dùng để phản ánh số hiện có và tình
hình tăng , giảm giá trị tai sản.
+ Nhóm tài khoản phản ánh nguồn hình thành tài sản.
+ Nhóm tài khoản hỗn hợp: là nhóm tài khỏan vừa mang kết cấu của tài khoản giá trị tài
sản, vừa mang kết cấu của tài khoản nguồn hình thành tài sản.
- Loại 2: Loại tài khoản điều chỉnh: dùng để tính toán lại các chỉ tiêu được phản ánh ở các
tài khoản cơ bản nhằm cung cấp số liệu sát thực về tình hình tài sản tại thời điểm tính
toán. Loại này được chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh giảm: bao gồm tài khoản điều chỉnh giảm giá trị tài sản,
nhóm tài khoản điều chỉnh giảm nguồn hình thành tài sản ( tài khoản thuộc nhóm này
không có trong hệ thống tài khoản kế toán hiện hành ở Việt Nam).
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh tăng: tài khoản thuộc nhóm này hiện không có trong hệ
thống tài khoản kế toán Việt Nam.
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh vừa tăng, vừa giảm: các tài khoản thuộc nhóm này trong hệ
thống tài khoản kế toán Việt Nam chỉ có nhóm điều chỉnh vừa tăng vừa giảm nguồn hình
thành tài sản.
- Loại 3: Loại tài khoản nghiệp vụ: là nhóm những tài khoản dùng để tập hợp số liệu cần
thiết rồi từ đó sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật để xử lý số liệu.
Loại này được chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm tài khoản tập hợp phân phối: dùng để tập hợp chi phí rồi phân phối chi phí (kết
chuyển chi phí). Nhóm tài khoản này không có số dư cuối kỳ.
+ Nhóm tài khoản phân phối theo dự toán: phản ánh các khoản chi phí phát sinh theo dự
toán lập từ trước. Hoặc chi phí đã phát sinh sẽ lập dj toán phân phối cho các đối tượng sử
dụng. Nhóm này gồm 2 tài khoản: tài khoản “ chi phí phải trả” và tài khoản” chi phí trả
trước”.
+ Nhóm tài khoản tính giá thành: dùng để tập hợp chi phí sản xuất, cung cấp các chỉ tiêu
để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
+ Nhóm tài khoản so sánh: dùng để xác định các chỉ tiêu cần thiết về hoạt động kinh
doanh bằng cách so sánh giữa bên Nợ và bên Có của từng tài khoản. Tài khoản thuộc
nhóm này là tài khoản đầu 5,7,9.
• Tác dụng của cách phân loại này: tạo điều kiện thuận lợi cho việc phản ánh, ghi chép của
kế toán và việc tính toán xác định các chỉ tiêu cần thiết để cung cấp cho quản lý điều hành
hoạt động sản xuất – kinh doanh.
3.3 Phân loại theo mối quan hệ tài khoản kế toán với các báo cáo tài chính:
- Loại 1: Loại tài khoản thuộc bảng cân đối kế toán: là những tài khoản mà số liệu cuối kỳ
của nó được sử dụng để lập Bảng cân đối kế toán. (những tài khoản phản ánh giá trị tài
sản và nguồn hình thành tài sản).
- Loại 2: Loại tai khoản ngoài Bảng cân đối kế toán: là những tai khoản mà số liệu của nó
nhằm giải thích, bổ sung rõ một số chỉ tiêu đã được phản ánh trong Bảng cân đối kế toán
hoặc những tài khoản phản ánh tài sản không thuộc quyền sở hữu nhưng lại nắm quyền
quản lý và sử dụng của đơn vị. Các tài khoản loại này có số dư bên Nợ và được ghi đơn.
- Loại 3: Loại tài khoản thuộc các báo cáo kết quả kinh doanh, báo các các khoản thu –
chi. Những tài khỏan thuộc loại này không có số dư.
3.4 Phân loại tài khoản theo mức độ khái quát của đối tượng kế toán phản ánh trong tài
khoản:
- Loại tài khoản tổng hợp : là loại tài khoản kế toán được dùng để phản ánh các đối tượng
kế toán mang tính tổng hợp mà qua đó có thể tính toán và rút ra các chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp (nguyên vật liệu, TSCĐ HH), việc ghi chép được sử dụng bằng thước đo giá trị.
- Loại tài khoản chi tiết: là tài khoản kế toán được sử dụng để ghi chép một cách tỉ mỉ chi
tiết các đối tượng đã được theo dõi trên tài khoản tổng hợp. Việc ghi chép có thể sử dụng
cả thước đo giá trị và hiện vật.
• Mối quan hệ giữa tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết:
- Việc ghi chép phản ánh tiến hành một cách đồng thời ở cả tài khoản tổng hợp và tài
khoản chi tiết, số liệu phải phù hợp với nhau.
- Số dư (đầu kỳ hoặc cuối kỳ) của tài khoản tổng hợp bằng tổng số dư (đầu kỳ hoặc cuối
kỳ) của các tài khoản chi tiết.
- Số phát sinh tăng, giảm trên tài khoản tổng hợp bằng tổng số phát sinh tăng, giảm trên
các tài khỏan chi tiết.
- Giữa các tài khoản tông hợp có quan hệ đối ứng với nhau, nhưng giữa tài khoản chi tiết
và tài khoản chi tiết không có quan hệ đối ứng vì chúng cùng phản ánh một hiện tượng
kinh tế phát sinh của cùng một đối tượng kế toán.
4. Giới thiệu hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam.
- Tên gọi của TK phù hợp với tên gọi của đối tượng kế toán mà tài khoản đó phản ánh
- Số hiệu tài khoản:
+ Số hiệu của tài khoản cấp 1 được ký hiệu bằng 3 chữ số. Chữ số đầu chỉ tài khoản, chữ
số thứ 2 chỉ nhóm tài khoản, chữ số thứ 3 chỉ tài khoản trong nhóm.
+ Số hiệu của tài khoản cấp 2 được ký hiệu bằng 4 chữ số. 3 chữ số đầu là tài khoản cấp 1
phải mở chi tiết,, chữ só thứ 4 chỉ tài khoản cấp 2 của tài khoản cấp 1 đó.
- Tài khoản kế toán được phân loại và sắp sếp theo 1 trình tự nhất định. Loại 1 , loại 2
phản ánh tài sản ; loại 3, loại 4 phản ánh nguồn hình thành tài sản; loại 5,6 phản ánh quá
trình kinh doanh.
- Trong từng loại thứ tự các tài khỏan cũng theo nguyên tắc nhất định.
+ Trong tài khoản phản ánh tài sản thì vốn lưu động xếp trước. Tài khoản phản ánh nguồn
hình thành tài sản thì nợ phải trả sắp xếp trước.
- Mỗi tài khoản chỉ phản ánh một nội dung kinh tế nhất định và không sử dụng tài khoản
vừa phản ánh tài sản vừa phản ánh nguồn hình thành tài sản.
5. Kết cấu tài khoản:
Tài khoản ngoài bảng:
- Bên Nợ ghi nhận phát sinh tăng
- Bên Có ghi nhận phát sinh giảm.
- Số dư bên Nợ và được ghi đơn.
III CÁCH GHI CHÉP VÀO TÀI KHOẢN KẾ TOÁN
1. Ghi đơn vào tài khoản kế toán: là việc phản ánh nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài
khoản kế toán mà chỉ môt tài khoản mà thôi.
- Ghi đơn vào tài khoản kế toán mới chỉ phản ánh được sự vận động riêng biệt, độc lập
của từng đối tượng kế toán, mà chưa phản ánh được mối quan hệ giữa các đối tượng kế
toán.
- Tài khoản ghi đơn bao gồm những tài khoản phản ánh các đối tượng kế toán là tài sản
không thuộc quyền sở hữu nhưng thuộc quyền quản lý và sử dụng của đơn vị. ( Thường
là các tài khoản ngoài bảng )
2. Ghi kép vào tài khoản kế toán:
Để có thể ghi kép vào tài khoản kế toán mọi nghiệp vụ kinh tế đều phải được định khoản
kế toán trước khi ghi sổ kế toán.
2.1 Định khoản kế toán:
2.1.1 Khái niệm, tác dụng của định khoản kế toán:
Định khoản kế toán là việc xác định nghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan đến những
đối tượng kế toán nào, được ghi vào bên Nợ, bên Có của những tài khoản kế toán có liên
quan nào với số tiền cụ thể là bao nhiêu.
- Tác dụng: Tránh nhầm lẫn có thể xảy ra trong công tác ghi sổ kế toán, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phân công lao động kế toán.
2.1.2 Phân loại định khoản kế toán:
Căn cứ vào số lượng tài khoản trong một định khoản, định khoản kế toán được chia thành
2 loại:
- Định khoản giản đơn: là định khoản chỉ liên quan đến 2 tài khoản.
Ví dụ: Rút tiền gửi ngân hàng về nhập quỹ tiền mặt.
- Định khoản phức tạp: là định khoản liên quan đến 3 tài khoản trở lên. Thực chất của định
khỏan phức tạp là ghép nhiều định khỏan giản đơn lại với nhau.
2.1.3 Một số quy định về định khoản kế toán:
- Xác định tài khoản ghi Nợ trước, tài khoản ghi Có sau.
- Tổng số tiền ghi vào bên Nợ của các tài khoản luôn luôn = tổng tiền ghi vào bên Có của
các tài khoản có liên quan trong cùng một định khoản.
- Không nên gộp các định khoản giản đơn thành định khoản phức tạp, vì nó sẽ gây khó
khăn trong việc kiểm tra, đối chiếu số liệu kế toán và làm mất tính rõ ràng của kế toán.
- Có thể tách định khoản phức tạp thành nhiều định khoản giản đơn.
2.2 Ghi kép vào tài khoản kế toán:
Ghi kép vào tài khoản kế toán là việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào trong
tài khoản kế toán mà ít nhất là 2 tài khoản có liên quan. (đưa ví dụ )
• Cơ sở của việc ghi kép: là dựa vào mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán
trong từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh và kết cấu cấu của tài khoản kế toán đã được xây
dựng. Mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán trong cùng nghiệp vụ kinh tế phát sinh là
mối quan hệ chuyển hóa lẫn nhau, mối quan hệ nhân quả, nó kéo theo mối quan hệ giữa
các tài khỏan kế toán phản ánh các đối tượng kế toán đó. Mối quan hệ giữa các tài khoản
kế toán phản ánh các đối tượng kế toán có quan hệ với nhau trong cùng một nghiệp vụ
gọi là quan hệ đối ứng tài khỏan. Các tài khoản có quan hệ đối ứng với nhau gọi là tài
khoản đối ứng.
• Xét sự ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh tế đến tài sản và nguồn hình thành tài sản có
thể quy tất cả các loại nghiệp vụ kinh tế (các loại quan hệ đối ứng) về 4 loại sau:
- Loại 1: các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng giá trị tài sản này, đồng thời làm giảm
tương ứng giá trị tài sản khác. (ví dụ : rút tiền gửi NH về quỹ TM).
- Loại 2: Các nghiệp vụ làm tăng nguồn vốn này , đồng thời làm giảm nguồn vốn khác một
lượng tương ứng.
- Loại 3: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng giá trị tài sản, đồng thời làm tăng nguồn
vốn một lượng tương ứng.
- Loại 4: các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm cho giá trị tài sản này giảm xuống đồng thời
làm giảm nguồn vốn một lượng tương ứng.
• Nhận xét: mọi nghiệp vụ kinh tế diễn ra ở bất kỳ dạng nào cũng đều không làm ảnh
hưởng đến tính cân bằng giữa giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản. Nói cách khác, ở
bất kỳ thời điểm nào trong quá trình hoạt động kinh tế của đơn vị tổng giá trì tài sản luôn
bằng tổng nguồn hình thành tài sản.
Nguồn vốn chủ sở hữu = Tài sản - Nợ phải trả
----------------------------------------
----------------------------------------
"không sợ thất bại, chỉ sợ mất đi sự cố gắng"
huu Offline
#2 Đã gửi : Sunday, September 09, 2012 9:02:00 AM(UTC)
Danh hiệu: Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 8/24/2012(UTC)
Bài viết: 12
Đến từ: hanoi

Cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn: 0 lần trong 0 bài viết
thông tin khóa học kế toán tổng hợp-->>tại đây
nguyễn hằng Offline
#3 Đã gửi : Friday, September 28, 2012 5:07:53 PM(UTC)
Danh hiệu: Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 8/28/2012(UTC)
Bài viết: 11
Đến từ: ha noi

Cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn: 0 lần trong 0 bài viết
thanks bạn nha mình đang tìm tài liệu về môn kế toán này
phambe Offline
#4 Đã gửi : Saturday, March 16, 2013 11:15:01 PM(UTC)
Danh hiệu: Newbie

Nhóm: Registered
Gia nhập: 3/16/2013(UTC)
Bài viết: 1
Đến từ: hn

Cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn: 0 lần trong 0 bài viết
cái gì có liên quan tới kế toán là em đọc ngay ah. vì em học ngành kế toán mà lại.hi dù sao cũng thanks trụ thớt nha!
ho tro vay kinh doanh | Van hoc co dien Viet Nam | Tour Mui Ne
Ai đang xem chủ đề này?
Guest
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

YAFPro Theme Created by Jaben Cargman
Powered by YAF 1.9.4 YAF © 2003-2010 | forum.tgu.edu.vn
Thời gian xử lý trang này hết 0.804 giây.