Diễn đàn - Trường ĐH Tiền Giang Tìm kiếm | Chủ đề có bài mới | Đăng nhập | Đăng ký

BÀI MẪU HỘI THI KỂ CHUYỆN VỀ NHỮNG GƯƠNG ANH HÙNG QUA CÁC THỜI KỲ
Susu Offline
#1 Đã gửi : Tuesday, April 03, 2012 2:43:20 PM(UTC)

Danh hiệu: Administration

Nhóm: Administrators
Gia nhập: 8/10/2011(UTC)
Bài viết: 470
Man
Đến từ: Mỹ Tho

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 16 lần trong 15 bài viết
Kế hoạch - Hội thi kể chuyện về những tấm gương anh hùng qua các thời kỳ



















I. TÊN GỌI: Hội thi kể chuyện về những tấm gương anh hùng qua các thời kỳ
[/center]
II. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:

1. Mục đích:

- Kỷ niệm 37 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2012); hướng tới Kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/05/1890 – 19/05/2012);

- Thông qua hội thi nhằm khuyến khích CBVC, học sinh, sinh viên sưu tầm và kể những câu chuyện về những tấm gương anh hùng; tạo ra môi trường văn hoá đọc trong CBVC, học sinh sinh viên, góp phần ảnh hưởng tích cực của mỗi câu chuyện, mỗi tác phẩm vào công việc và học tập của CBVC, học sinh, sinh viên.

- Hội thi còn là dịp để CBVC, học sinh sinh viên rèn luyện kỹ năng thuyết trình, khả năng diễn cảm;

2. Yêu cầu:

Việc tổ chức hội thi phải bảo đảm được các yêu cầu sau đây:

- Cuộc thi phải được phổ biến rộng rãi trong toàn trường để đối tượng dự thi biết và có thể tham gia: chương trình trao giải thưởng tổ chức trang trọng và tiết kiệm kinh phí;

- Bài dự thi phải bảo đảm trình bày theo đúng yêu cầu do Ban Tổ chức quy định tại Thể lệ dự thi, khuyến khích có sự đầu tư trong trình bày;


III. ĐỐI TƯỢNG DỰ THI:

CBVC, học sinh, sinh viên đang làm việc và học tập tại Trường Đại học Tiền Giang tự nguyện tham gia và cam kết chấp hành các quy định của Thể lệ hội thi. Mỗi tác giả chỉ được dự thi tối đa 01 bài.

IV. THỂ LỆ:

Hội thi diễn ra gồm 2 vòng:

1.Vòng sơ khảo:

- Cá nhân thí sinh tham gia thực hiện 01 bài viết không quá 1.000 từ về một gương anh hùng qua các thời kỳ mà mình tâm đắc. Trong bài viết cần thể hiện: tiểu sử, phát biểu cảm nghĩ; nêu bài học bản thân cũng như sự tác động đến nhận định, tư tưởng của bản thân mình từ gương anh hùng đó. Từ đó, xác định mục đích lý tưởng của bản thân như thế nào về xây dựng và bảo vệ đất nước trong hiện tại và tương lai? Trong bài viết cần thể hiện thêm hình thức minh họa dự kiến cho phần kể chuyện, nếu như bài viết được chọn vào vòng trong.

- Các thí sinh ghi ngắn gọn, súc tích, rõ ràng nhằm giúp ban tổ chức chuẩn bị tốt công tác hậu cần cho vòng thi sau cũng như giúp thí sinh thực hiện tốt bài thi của mình. Nếu bài viết không có nội dung của phần thông tin này sẽ bị loại trực tiếp.

- BTC sẽ chọn những bài viết chất lượng và gửi về sớm nhất vào vòng chung kết.

- Bài viết phải ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, số điện thoại, email, địa chỉ, đơn vị công tác và học tập của bản thân; giúp ban tổ chức thuận tiện trong việc liên lạc. Bài viết gửi về: Phòng đọc B.01 – Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Tiền Giang (Số 119 - Ấp Bắc – Phường 5 – Tp.Mỹ Tho – Tiền Giang); hoặc qua email: tranthikimphuong88@gmail.com (tiêu đề email xin ghi rõ: Bài tham gia Hội thi kể chuyện về những tấm gương anh hùng).

- Hạn chót nộp bài: 17h, ngày 15/04/2012

- Thời gian công bố danh sách vào vòng trong : ngày 20/04/2012 trên website: www.tgu.edu.vn, bản tin của Trung tâm Thông tin Thư viện và email trực tiếp đến các thí sinh.

- Mọi chi tiết xin liên hệ số điện thoại: 0917.726710 (gặp Kim Phượng)

2. Vòng chung kết

- Mỗi thí sinh sẽ thực hiện bài kể chuyện trong thời gian không quá 10 phút. Nội dung kể chuyện là bài viết đã thực hiện trong vòng sơ khảo gửi về Ban tổ chức trước đó. Sau khi hoàn tất sẽ trả lời câu hỏi hoặc trao đổi của Ban giám khảo nếu có.

Lưu ý: Trang phục lịch sự, gọn gàng, …Khuyến khích: nam mặc sơ mi thắt cà vạt, nữ mặc áo dài hoặc áo thanh niên Việt Nam.

- Yêu cầu các thí sinh phải có hình thức minh họa cụ thể: bằng slide trình chiếu hoặc hình thức sáng tạo bất kỳ được sự kiểm duyệt trước của Ban tổ chức. Các thí sinh đăng ký hình thức minh họa ngay trong bài viết tham gia ở vòng sơ khảo. Liên hệ với Ban tổ chức hội thi để được hỗ trợ tốt nhất.

- Thời gian diễn ra hội thi: 18g30 ngày 26/04/2012 (dự kiến)

- Địa điểm: Giảng đường Cơ sở chính

3. Tiêu chí chấm điểm

3.1 Căn cứ vào câu chuyện kể, ban giám khảo chấm nội dung, giọng kể, sự sinh động, sáng tạo, bài học rút ra từ câu chuyện kể, minh họa, trang phục.

3.2 Tổng số điểm là 40, trong đó:

- Giới thiệu về bản thân : 02 điểm

- Giới thiệu xuất xứ câu chuyện: 02 điểm

- Có bài học rút ra từ chuyện kể: 04 điểm

- Trình bày diễn cảm, sinh động, giọng kể hấp dẫn: 15 điểm

- Điểm nội dung: 10 điểm

- Hát, múa, đọc thơ minh họa: 03 điểm

- Trang phục đẹp, phù hợp: 02 điểm

- Nhạc nền phù hợp: 02 điểm

3.3 Thí sinh bị trừ điểm trong các trường hợp sau:

- Thời lượng dành cho mỗi câu chuyện kể không quá 10 phút (kể cả phần múa, hát, đọc thơ minh họa) và trả lời câu hỏi phụ không quá 02 phút. Nếu quá 30 giây trừ 0,5 điểm; từ 1 phút trở lên trừ 1 điểm.

4. Tài liệu tham khảo:

- Chân dung bà mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Tiền Giang (KHPL: 928)

- Danh nhân Hồ Chí Minh (KHPL: 335.5271)

- Danh tướng Việt Nam Tập 1, 2, 3 – Nguyễn Khắc Thuần (KHPL: 959.7092)

- Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Những chặng đường lịch sử (KHPL: 335.52)

- Gia tài của tôi – Lê Quang Đồng (KHPL: 895.9223)

- Gương sáng đất Thăng Long – Trần Nữ Quế Phương (sưu tầm, biên soạn) (KHPL: 928)

- Phan Châu Trinh – Cuộc đời và tác phẩm – Nguyễn Quyết Thắng (KHPL: 813.6)

- Phạm Văn Đồng trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế (KHPL: 335.527)

- Quang Trung anh hùng dân tộc: 1788 – 1792 (KHPL: 928)

- Kể chuyện đạo đức Bác Hồ (KHPL: 335.5271)

- Lê Duẩn – một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam. (KHPL: 335.527)

- Mãi mãi tuổi hai mươi – Nguyễn Văn Thạc (KHPL: 818.03)

- Nghiên cứu Phan Bội Châu – Chương Thâu (KHPL: 928)

- Nguyễn Trung Trực – Thân thế và sự nghiệp (KHPL: 923)

- Nhân vật tỉnh Tiền Giang – Võ Văn Lộc, Nguyễn Phúc Nghiệp (KHPL: 920.0597)

- Nhật ký Đặng Thùy Trâm (818.03)

- Nhớ về anh Lê Đức Thọ (KHPL: 335.527)

- Trường Chinh – Một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. (KHPL: 335.527)

- Võ Văn Kiệt vị thủ tướng trọn đời vì dân (KHPL: 922)

Ngoài những tài liệu tham khảo được nêu trên, thí sinh dự thi có thể tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác trên sách, báo, tạp chí, internet, …Lưu ý: Ghi rõ nguồn tài liệu nếu được trích dẫn.

V. CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG:

Ban Tổ chức hội thi tặng Giấy khen của Hiệu trưởng Trường Đại học Tiền Giang kèm giải thưởng hiện kim, cụ thể như sau:

- 01 giải Nhất: 120.000 đ/giải x 01 giải = 120.000 đồng

- 02 giải Nhì: 100.000 đ/giải x 02 giải = 200.000 đồng

- 02 giải Ba: 80.000 đ/giải x 02 giải = 160.000 đồng

- 05 giải Khuyến khích: 60.000 đ/giải x 05 giải = 300.000 đồng

Tổng giá trị giải thưởng: 780.000 đồng (Viết bằng chữ: bảy trăm tám chục nghìn đồng).

Ngoài việc khen thưởng, những bài đạt giải còn có thể được lựa chọn để đăng trên website của nhà trường. Những bài được đăng sẽ có tiền nhuận bút theo quy định.
Đi và viết với lòng nhiệt huyết
Susu Offline
#2 Đã gửi : Tuesday, April 03, 2012 2:52:10 PM(UTC)

Danh hiệu: Administration

Nhóm: Administrators
Gia nhập: 8/10/2011(UTC)
Bài viết: 470
Man
Đến từ: Mỹ Tho

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 16 lần trong 15 bài viết
VÕ THỊ SÁU – NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA VÙNG ĐẤT ĐỎ MIỀN ĐÔNG



MS: 01
[/b]



Bài hát; http://www.youtube.com/w...XLOI&feature=related


Là thế hệ sau nhưng mỗi lần nhắc đến chị Võ Thị Sáu thật không khỏi bồi hồi, xúc động, hình ảnh chị Sáu mảnh mai, mái tóc cài hoa, miệng hát bài ca Cách mạng, bình thản đón nhận cái chết. Giữ vững khí tiết người chiến sỹ Cách mạng đến phút cuối. Đó là câu chuyện về anh hùng Võ Thị Sáu mà tôi đã học được từ ngay còn tiểu học.


Võ Thị Sáu sinh năm 1933, trong một gia đình nghèo ở xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa (nay thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Qua nhiều lần thử thách, năm 1947 Võ Thị Sáu được kết nạp vào Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ lúc 14 tuổi.
Với trí thông minh, dáng vóc nhỏ, nhanh nhẹn, Võ Thị Sáu đã luồn sâu vào vùng tạm chiếm từ thị trấn Đất Đỏ đến Phước Lợi, Long Mỹ, Phước Hải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, nắm tình hình, cung cấp và báo cáo kịp thời cho tổ chức nhiều tin tức quan trọng, đã giúp cho Công an quận Đất Đỏ có kế hoạch chủ động đề phòng và tấn công địch có hiệu quả.


Võ Thị Sáu đã phát hiện kịp thời tên Sáu Thoại - nữ gián điệp làm chỉ điểm cho Pháp để báo cáo cho tổ chức xử lý. Tháng 7-1948, chị phát hiện tên Sớm là nhân viên công an xã đã phản bội, đang chỉ đường dẫn Pháp vào đánh úp căn cứ của Đội Công an xung phong. Nhờ thông tin báo cáo kịp thời Công an huyện và Đội Công an xung phong đã thoát khỏi nguy hiểm, bảo vệ được cách mạng.
Đội Công an Đất Đỏ được giao nhiệm vụ phá cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc khánh Pháp (14-7-1948), do tỉnh trưởng Lê Thành Tường tổ chức tại Đất Đỏ. Để bảo vệ cuộc lễ, địch đã tăng cường lực lượng bảo vệ canh phòng, chăng dây thép gai quanh khu mít tinh, lập trạm gác các ngả đường về Đất Đỏ trước đó 3 ngày.


Võ Thị Sáu xin được trực tiếp đánh trận này. Chị nhận lựu đạn ém vào góc chợ sát khán đài từ nửa đêm. Buổi sáng hôm ấy, địch lùa đồng bào vào sân. Khi xe của Tỉnh trưởng vừa tới, chị Sáu tung lựu đạn về phía khán đài - nơi trống không có người để uy hiếp giải tán cuộc mít tinh.


Hai tổ công an xung phong chốt gần đấy đồng loạt nổ súng yểm tạo áp lực giải tán cuộc mít tinh đồng thời hỗ trợ cho Sáu rút an toàn. Các cơ sở của ta được bố trí trong đoàn người mít tinh hô to: “Việt Minh tiến công” và hướng dẫn đồng bào giải tán. Sau chiến công này, chị Sáu được tổ chức tuyên dương khen ngợi và chị được giao nhiệm vụ diệt tề trừ gian.
Tên cai tổng Tòng là việt gian khét tiếng chống phá cách mạng, tổ chức cách mạng quyết định và giao cho Đội Công an xung phong trừ khử Tòng, Võ Thị Sáu được giao thực hiện nhiệm vụ này, sau khi đề xuất phương án và được được tổ chức đồng ý diệt tên Tòng ngay tại tổng hành dinh.





Một buổi sáng tháng 11- 1948, Võ Thị Sáu cải trang trà trộn cùng tốp người đi làm căn cước, mang theo trái lựu đạn “mãng cầu” nằm trong cơi đựng trầu. Giữa buổi, Võ Thị Sáu vào nhà làm việc của tên tổng cai Tòng, rút chốt lựu đạn ném thẳng vào mặt y và hô to: “Việt Minh tấn công” rồi kéo mấy chị em cùng chạy. Lựu đạn nổ, cai Tòng nằm quằn quại trong vũng máu nhưng không chết, đám hội tề và lính đồn khiếp vía không dám lùng sục như trước nữa.

Tháng 2-1950, Võ Thị Sáu dùng lựu đạn tiêu diệt 2 tên ác ôn có nhiều nợ máu là Cả Đay và Cả Suốt, không may chị bị địch bắt. Địch giam chị tại khám Chí Hòa (Sài Gòn). Kẻ địch dùng mọi cực hình tra tấn, chị chết đi sống lại nhiều lần nhưng địch không khai thác được gì ở chị.

Chị vẫn giữ vững khí tiết người chiến sỹ Cộng sản, người Công an kiên cường, tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi cách mạng. Kẻ địch không khuất phục được người con gái quận Đất Đỏ, mặc dù Võ Thị Sáu chưa đến tuổi thành niên, thực dân Pháp vẫn đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình. Để che dấu tội ác, giặc Pháp đày chị ra Côn Đảo chờ ngày đủ tuổi để thi hành bản án. Chị là người thiếu nữ đầu tiên bị đưa ra hành hình ở Côn Đảo.

Thật cảm động biết bao khi ở khám tử hình, chị Sáu nhờ người tới xin vợ chồng Cò:
- Thưa ông bà, người tù kia sớm mai bị hành quyết. Cô ấy muốn xin được vài phút ra sân tắm nắng để được ngắm đất trời quê hương mình.





Yêu quê hương đến thế là cùng. Trước sân Võ Thị Sáu xõa tóc hong gió. Cái bóng hồn nhiên nhỏ bé ấy đã làm vợ Cò trở về phòng, úp mặt xuống giường thổn thức.

Sáng 23-1-1952, giặc Pháp đưa chị Võ Thị Sáu ra pháp trường xử bắn. Trước lúc hy sinh, Võ Thị Sáu từ chối rửa tội. Chị ôn tồn nói với linh mục: “Tôi không có tội. Nếu cha muốn rửa tội xin hãy rửa tội cho những kẻ sắp giết tôi đây”.
Khi được hỏi có ân hận điều gì trước khi chết không, chị đã trả lời: “Tôi chỉ ân hận chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và lũ tay sai bán nước”. Không cần bịt mắt, chị hiên ngang nhìn thẳng vào họng súng kẻ thù hô to: “Đả đảo thực dân Pháp, Việt Nam muôn năm, Hồ Chí Minh muôn năm”.





Hình ảnh này làm tôi liên tưởng đến: bàn tay đưa lên giựt khăn bịt mắt của anh Nguyễn Văn Trỗi, là nụ cười của chị Võ Thị Thắng, là câu nói "hành động vì dân tộc tôi" của anh Nguyễn Thái Bình... là những câu nói, những hành động còn mãi với thời gian
Sau cuộc hành hình Võ Thị Sáu, một người lính lê dương già đã bỏ ăn 3 ngày, anh ta luôn khóc than và sám hối với những tù chính trị ở công quán Côn Đảo: “Cô ta tin vào chính nghĩa dân tộc, bình thản đến lạ lùng, yêu đời đến phút chót, dũng khí tỏa ra cả khi ngã xuống. Đó mới chính là anh hùng”.





Chị Sáu hy sinh lúc mới 19 tuổi. Tài sản riêng của chị chỉ có 2 bộ quần áo, ngoài ra không còn gì nữa. Ngay cả tình yêu, vì bận chiến đấu, tình yêu cũng chưa đến với chị. Có lẽ tài sản thiêng liêng của chị là tình yêu Tổ quốc. Chị đã hiến dâng tất cả tuổi thanh xuân của mình cho tình yêu ấy. Ngày 3-8-1993, Võ Thị Sáu được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.



Dân tộc Việt Nam luôn có truyền thống hào hùng, bất khuất: “có cái chết hóa thành bất tử, có những lời hơn mọi lời ca. Anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu là một biểu tượng hiên ngang, lạc quan cách mạng, trước họng súng kẻ thù không hề run sợ, tỏ rõ được khí phách của người yêu nước, yêu cách mạng, tin tưởng tuyệt đối thắng lợi của cuộc cách mạng. Chị Sáu vẫn sẽ sống cùng lịch sử cách mạng việt Nam, thơ ca Việt Nam, đồng thời chị góp phần tô điểm rạng rỡ cho non sông đất nước Việt Nam, là tấm gương kiên cường, bất khuất cho tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại mới.

Là người được sống trong hòa bình, độc lập tự do thành quả của những người đã ngã xuống hôm qua, những chiến sĩ anh hùng cách mạng. Chúng ta phải có trách nhiệm và giữ gìn giữ mãi thành quả đó. Chúng ta hãy cùng nhau xây dựng đất nước Việt Nam: giàu mạnh văn minh và công bằng, xây dựng tình hữu nghị quốc tế. Sống vì tình người, sống cho cái chân, cái thiện, cái mỹ.





Chị Sáu ơi! Chị hãy yên lòng yên nghỉ, tuổi trẻ hôm nay nhất định làm được điều mà chị mong đợi.
Để thay lời kết, xin mượn đôi câu thơ ngắn viết về Chị Sáu:
“Chị đã chọn con đường chiến đấu
Vì tự do của đất nước mình
Lúc hy sinh lòng vẫn kiên trinh
Biến cái chết trở thành bất tử.

Tên tuổi Chị tạc vào thế kỷ
Ngàn đời sau vẫn nhớ không quên
Một cuộc đời trong trắng, trinh nguyên
Người đời tôn vinh là thần hộ mệnh.”










Ghi chú: Nếu bài viết vào vòng chung kết, tác giả sẽ thể hiện câu chuyện bằng hình thức: tóm tắt cốt chuyện, minh họa hình ảnh, bài hát về chị Võ Thị Sáu trên bài trình chiếu Powerpoint.



Tham khảo:
1.www.quehuongonline.vn
2. www.hanoi.vnn.vn
3. Võ Thị Sáu - Con Người Và Huyền Thoại (2008), NXB Tổng hợp TP.HCM


Đi và viết với lòng nhiệt huyết
Susu Offline
#3 Đã gửi : Tuesday, April 03, 2012 4:18:53 PM(UTC)

Danh hiệu: Administration

Nhóm: Administrators
Gia nhập: 8/10/2011(UTC)
Bài viết: 470
Man
Đến từ: Mỹ Tho

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 16 lần trong 15 bài viết
HÃY SỐNG NHƯ ANH

MÃ SỐ: 02


“Có những phút làm nên lịch sử. Có cái chết hóa thành bất tử. Có những lời hơn mọi bài ca. Có con người như chân lý sinh ra..." (Tố Hữu). Đấy là những vần thơ viết về anh Nguyễn Văn Trỗi!












Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1/2/1940 ở làng Thanh Quít, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam). Mẹ chết sau một cuộc càn của giặc Pháp. Khi anh lên 3 tuổi thì cha bị Tây bắt, nên anh sống nhờ vào bác và anh chị.
Đến năm 15 tuổi, Nguyễn Văn Trỗi ra Đà Nẵng ở nhà người anh, tìm việc làm nuôi thân. Nhưng anh Trỗi sợ anh chị gánh thêm việc nuôi mình sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nên năm 1962, anh trốn anh chị vào Sài Gòn ở với người anh họ Nguyễn Hữu Kiếm tại Vườn Xoài để tìm kế sinh nhai.

Lúc đầu, anh đạp xích lô, sau đó theo học nghề điện. Năm 1963, trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Sài Gòn chống bọn xâm lược, anh được Đảng giác ngộ và được kết nạp vào Đoàn Thanh niên, trở thành một chiến sĩ giải phóng trong đơn vị biệt động bí mật của Sài Gòn.

Đầu tháng 5/1964, anh nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý để giết Mc Namara, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, sang Sài Gòn. Lúc đó, anh Nguyễn Văn Trỗi vừa mới cưới vợ (21/4/1964). Tổ chức biết việc xây dựng gia đình của anh, muốn anh có một thời gian hưởng hạnh phúc những ngày mới cưới.

Nhưng với quyết tâm diệt thù, anh xin nhận bằng được nhiệm vụ. Được tổ chức đồng ý, anh đã lao vào chuẩn bị thực hiện kế hoạch đặt mìn giết Mc Namara. Nhưng ngày 9/5/1964 anh bị bắt. Chúng đánh anh tàn nhẫn, dùng mọi cực hình tra tấn dã man, tàn bạo nhất để hòng tìm ra manh mối cơ sở ta, nhưng anh không khai. Anh tự nhận chính mình đã tổ chức giết Mc Namara chứ không còn ai khác!

Những ngày anh Trỗi bị giam cầm, đánh đập, địch đem chị Phan Thị Quyên, vợ anh lại gặp anh, nhưng anh khẳng khái nói: “Còn thằng Mỹ, thì không ai có hạnh phúc cả”. Bọn tay sai lấy cuộc sống xa hoa, sung sướng ra để mua chuộc, anh khinh bỉ mắng: “Sống như các người, tôi không sống nổi. Sống như thế, thà chết còn hơn”. Chúng hỏi: Thế anh muốn gì? Anh trả lời: Tao muốn giết hết bọn Mỹ, tao muốn miền Nam được giải phóng.

Cuối cùng, chúng kết án tử hình và định ngày đưa anh ra xử bắn. Đột nhiên có tin du kích Venezuela bắt được trung tá tình báo Mỹ Smolen và báo cho Tổng thống Mỹ Johnson đòi đổi mạng cho anh Trỗi. Họ dọa: “Nếu ở Việt Nam xử bắn anh Trỗi thì một giờ sau ở Venezuela, quân du kích sẽ thủ tiêu trung tá Mỹ”. Mỹ đành phải ra lệnh cho chính quyền Sài Gòn hoãn lại ngày hành hình anh Trỗi. Nhưng khi quân du kích Venezuela thả trung tá Smolen thì chúng lật lọng, vội vàng đem xử bắn anh Trỗi. Lúc ấy, anh ở tuổi 24.

Lúc 9 giờ 59 phút ngày 15/10/1964, khi ra pháp trường, anh Trỗi rất bình thản, đàng hoàng. Anh hùng hồn vạch trần tội ác xâm lược của giặc Mỹ trước các nhà báo. Trước lúc xử tử, bọn chúng định bịt mắt anh, nhưng anh giật chiếc băng đen ra, nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Trước khi chết anh còn hô: “Đả đảo bọn xâm lược Mỹ và tay sai! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Câu “Hồ Chí Minh muôn năm” anh hô đến ba lần.



9 phút chiến đấu và hy sinh anh dũng của anh tại pháp trường đã trở thành biểu tượng của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ chống Mỹ. Chính Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta đã ghi trên tấm ảnh của anh Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập”.


Có những con người mà tinh thần và động lực của họ là bất diệt… Những con người đã dùng máu của mình nhuộm đỏ màu cờ Việt Nam. Chúng ta, sinh viên – sinh viên TGU, xứng đáng để kế thừa, để tự hào. Chúng ta không thể làm những hành động cách mạng nhưng chúng ta có thể làm những việc nhỏ nhoi xung quanh ta với động lực cách mạng, động lực như ở người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.

Tham khảo: http://dienban.gov.vn

Đi và viết với lòng nhiệt huyết
Susu Offline
#4 Đã gửi : Wednesday, April 04, 2012 9:41:47 AM(UTC)

Danh hiệu: Administration

Nhóm: Administrators
Gia nhập: 8/10/2011(UTC)
Bài viết: 470
Man
Đến từ: Mỹ Tho

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 16 lần trong 15 bài viết
Nào các bạn sinh viên hãy tham gia cuộc thi nhá! Nhất là các bạn chuyên ngành Sư Phạm ấy!
Đi và viết với lòng nhiệt huyết
Susu Offline
#5 Đã gửi : Thursday, April 05, 2012 8:22:58 AM(UTC)

Danh hiệu: Administration

Nhóm: Administrators
Gia nhập: 8/10/2011(UTC)
Bài viết: 470
Man
Đến từ: Mỹ Tho

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 16 lần trong 15 bài viết
Nguyễn Thị Định – Nữ anh hùng xứ Dừa





Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược (1960 - 1975) ở Miền Nam, người phụ nữ giữ vị thế rất đặt biệt, trở thành đội quân tóc dài trên khắp các mặt trận chính trị và vũ trang. Vị lãnh tụ của đội quân tóc dài ấy là bà Nguyễn Thị Định, phó Tư lệnh bộ chỉ huy quân giải phóng Miền Nam.








Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.


Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.



Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.





Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt, giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".


Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.



Tham khảo:
-Nữ Tướng Nguyễn Thị Định (2005), Nhà xuất bản Phụ Nữ
Đi và viết với lòng nhiệt huyết
Susu Offline
#6 Đã gửi : Thursday, April 05, 2012 8:29:22 AM(UTC)

Danh hiệu: Administration

Nhóm: Administrators
Gia nhập: 8/10/2011(UTC)
Bài viết: 470
Man
Đến từ: Mỹ Tho

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 16 lần trong 15 bài viết
LÝ TỰ TRỌNG:
Người anh cả sống mãi của tuổi trẻ Việt Nam






Lý Tự Trọng(1914 – 1931) tên thật là Lê Văn Trọng. Quê gốc ở xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhưng lại sinh ra tại làng Bản Mạy, tỉnh NaKhon - Thái Lan trong một gia đình Việt kiều yêu nước có đông anh chị em. Cha ông là Lê Hữu Đạt, mẹ là Nguyễn Thị Sờm. Năm 1923, chỉ mới 10 tuổi, Lý Tự Trọng được sang Trung Quốc học tập, học giỏi, nói thạo tiếng Hán và tiếng Anh. Ông hoạt động trong Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí.

Năm 1929, Lý Tự Trọng về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và làm liên lạc cho xứ uỷ Nam Kì với Đảng Cộng sản Việt Nam. Anh làm liên lạc cho các đồng chí cộng sản ở nước ngoài qua các chuyến tàu đến cảng Sài Gòn. Ngày 09/02/1931, trong buổi kỷ niệm một năm cuộc bạo động Yên Bái, tên thanh tra mật thám Lơ Gơrăng chực nhảy tới bắt người đang giương cờ và diễn thuyết, Lý Tự Trọng đã nhảy ra bắn chết Lơ Gơrang. Lý Tự Trọng bị địch bắt, bị tra tấn hết sức dã man.

Năm 1931, một ngày cuối xuân, thực dân Pháp đưa Lý Tự Trọng từ bót Catina đến tòa án để kết án anh tội tử hình. Người thanh niên cộng sản mới 17 tuổi ấy đã lấy vành móng ngựa để làm diễn đàn lên án bọn thống trị, kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh. Luật sư bào chữa cho anh xin tòa mở lượng khoan hồng vì anh chưa đến tuổi thành niên, đã hành động không có suy nghĩ.

Lý Tự Trọng dõng dạc nói:“- Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kĩ thì các ông cũng cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi.”







Chánh án, một tên quan cai trị thực dân tuyên án xử tử anh Trọng. Lý Tự Trọng vẫn bình tĩnh. Tên thực dân Pháp hỏi anh có ăn năn gì không; Lý Tự Trọng đứng trước vành móng ngựa, mặt thẳng phía trước chỉ nói một câu: "Không ăn năn gì cả!"

Ở trong xà lim án chém khám lớn Sài Gòn, Lý Tự Trọng oanh liệt sống những ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Mọi chi tiết về người tù án chém "Trọng con" được những tên gác ngục, tên chủ khám truyền ra ngoài với một lòng cung kính, khâm phục: "Ông nhỏ ngày nào cũng tập thể dục! Nhìn ông nhỏ sống không ai tưởng tượng được là người đợi đến ngày lên máy chém".

Gương mặt Lý Tự Trọng rắn rỏi và kiên nghị. Anh nhớ lại những ngày thơ ấu trên đất Xiêm, nơi cha mẹ anh vì trốn tránh sự khủng bố của đế quốc sang ẩn nấu ở bên kia bờ sông Cửu Long và sinh ra anh. Lý Tự Trọng tưởng như thấy lại các chiến sĩ Cộng Sản Trung Quốc bị Quốc dân đảng phản bội bắn chết hàng loạt bên bờ sông Châu Giang trên đất Quảng Châu sau ngày Công Xã Quảng Châu thất bại. Anh nhớ lại có lần cùng với các đồng chí lớn tuổi đi viếng mồ liệt sĩ Phạm Hồng Thái ở Hoàng Hoa Cương. Người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái năm 1926 đã ôm bom vào giết tên toàn quyền Pháp MecLanh ở Tô Giới Pháp sau nhảy xuống sông Châu Giang để khỏi sa vào tay giặc.

Lý Tự Trọng bồi hồi nhớ lại lần đầu được đặt chân lên Ô Cấp, được về hoạt động trên đất nước thân yêu, những lúc vùi đầu vào các trang sách đầy hào hứng những lúc trò chuyện ngắn ngủi với các đồng chí ở cơ sở nhớ cả lúc bị sa vào tay giặc... Những đòn tra tấn của quân giặc không làm lay chuyển được ý chí của anh. Trong xà lim án chém, Lý Tự Trọng làm bạn với "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. Cuốn này do vợ tên chủ khám biếu. Những câu thơ lục bát trong sáng, tài hoa của thi hào Nguyễn Du đã quyện lòng anh với tâm hồn hồn dân tộc.

Lý Tự Trọng yêu đất nước, yêu đồng bào, yêu đồng chí của mình, anh càng yêu cuộc sống, sống trọn vẹn những năm tháng ngắn ngủi của đời mình không hề lãng phí, không để mầm bi quan len lỏi vào tâm hồn mình mặc dù biết mình sắp bị giặc đem hành hình. Bọn thực dân tìm cách lung lạc ý chí gang thép của anh, nhưng tất cả những lời dụ dỗ của chúng đều bị anh đánh bại.

Bà Angđơrê Viôlít đã viết về giờ phút cuối cùng của Lý Tự Trọng: "Ngày 21/11/1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đuờng phố, tiếng la hét của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém. Phải điều quân đội và lính cứu hỏa để phun nước đàn áp họ. Trong những tường giam của khám lớn đã xảy ra những chuyện như thế. Trước máy chém, Huy định diễn thuyết, song hai tên sen đầm nhảy xô đến không cho anh nói. Người ta chỉ nghe thấy tiếng anh kêu "Việt Nam! Việt Nam!". Lý Tự Trọng trước khi lên máy chém mấy lần gọi "Việt Nam" thân yêu và đã hát nhiều lần bài "Quốc tế ca": "Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian!" và anh đã giữ vững ý chí chiến đấu đến phút chót của đời mình. Hơn 30 năm sau, ngày 15/10/1964, tại khám Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi trước lúc hy sinh lại hô: "Việt Nam muôn năm!" - "Hồ Chí Minh muôn năm!".

Trên thành phố Sài Gòn anh hùng, những câu nói giản dị và sâu sắc của những chiến sĩ tiêu biểu ở nhiều thế hệ ấy đã ngân vang từ những tâm hồn yêu nước nồng nhiệt và ý chí cách mạng kiên cường. Ngày nay, giữa thành phố Hồ chí Minh, con đường mang tên Lý Tự Trọng, chạy qua nơi anh từng bắn chết tên mật tám Lơ Gơrăng, anh vẫn như còn đó ở tuổi 17 hiên ngang, với tâm hồn trong sáng tràn ngập lòng yêu đời...
Đi và viết với lòng nhiệt huyết
Susu Offline
#7 Đã gửi : Wednesday, April 11, 2012 9:36:53 AM(UTC)

Danh hiệu: Administration

Nhóm: Administrators
Gia nhập: 8/10/2011(UTC)
Bài viết: 470
Man
Đến từ: Mỹ Tho

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 16 lần trong 15 bài viết
Các bạn Sinh viên hãy tham gia cuộc thi như một sự tri ân với các gương anh hùng lịch sử. Mình gợi ý các bạn khai khác một số gương điển hình như: Hai Bà Trưng, Lý Công Uẩn, Ngô Quyền, Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, Bác Hồ, cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Kim Đồng, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Thị Thập, 10 Cô gái thanh niên xung phong hi sinh tại ngã ba Đồng Lộc,...Bạn nào cần giúp đỡ thì liên hệ cô Kim Phượng: 0917 726 710 hay anh Vĩnh Sơn: 0938 940 588
Đi và viết với lòng nhiệt huyết
huu Offline
#8 Đã gửi : Wednesday, September 05, 2012 10:40:16 PM(UTC)
Danh hiệu: Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 8/24/2012(UTC)
Bài viết: 12
Đến từ: hanoi

Cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn: 0 lần trong 0 bài viết
mình rất thích topic này. xin được spam lớp học kế toán tại hà nội
Ai đang xem chủ đề này?
Guest (3)
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

YAFPro Theme Created by Jaben Cargman
Powered by YAF 1.9.4 YAF © 2003-2010 | forum.tgu.edu.vn
Thời gian xử lý trang này hết 0.442 giây.